KÊNH ĐÀO PANAMA GIẢM GIỚI HẠN MỚN NƯỚC CHO TÀU NEOPANAMAX
Kênh đào Panama sẽ tiếp tục giảm giới hạn mớn nước đối với tàu Neopanamax từ cuối tháng 8/2026 do mực nước hồ Gatun suy giảm.
Đến năm 2030, lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển TP.HCM được dự báo đạt 463,4 – 512,5 triệu tấn, trong đó hàng container đạt khoảng 29,63 – 33,16 triệu TEU. Thành phố đang định hướng phát triển hệ sinh thái cảng biển – logistics theo hướng xanh, thông minh và tăng cường kết nối liên vùng.

Không gian phát triển cảng biển được mở rộng
Tại Đối thoại Hữu nghị TP.HCM năm 2026, diễn ra từ ngày 10–12/9 tại phường Vũng Tàu, đại diện các cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp đã thảo luận về vai trò của chính quyền địa phương trong tăng cường hợp tác cảng biển và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững thế hệ mới.
Theo ông Bùi Hòa An, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM, sau quá trình mở rộng không gian phát triển, hệ thống cảng biển của thành phố không còn giới hạn tại Cát Lái, Hiệp Phước và Nhà Bè mà được kết nối với hệ thống cảng sông tại khu vực Bình Dương và cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải.
Cấu trúc mới tạo điều kiện để TP.HCM tăng cường vai trò điều phối luồng hàng hóa, kết nối các khu vực sản xuất và hình thành mạng lưới logistics liên vùng. Đồng thời, quy mô mới cũng đặt ra yêu cầu về quy hoạch thống nhất, hạ tầng đồng bộ và tăng cường kết nối vận tải đa phương thức.
Quyết định số 1061/QĐ-BXD ngày 29/6/2026 của Bộ Xây dựng đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể kết cấu hạ tầng hàng hải thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, qua đó cập nhật định hướng phát triển hệ thống cảng biển và hạ tầng hàng hải trong giai đoạn mới.
Sản lượng container có thể đạt hơn 33 triệu TEU
Đến năm 2030, lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển TP.HCM được dự báo đạt từ 463,4 đến 512,5 triệu tấn.
Trong đó, sản lượng container dự kiến đạt khoảng 29,63 – 33,16 triệu TEU, chưa bao gồm hàng trung chuyển quốc tế. Lượng hành khách qua cảng được dự báo đạt từ 3 đến 3,3 triệu lượt.
Với quy mô trên, TP.HCM định hướng nâng cao vị thế trong mạng lưới cảng biển và logistics khu vực, đồng thời hướng tới vai trò trung tâm điều phối cảng biển – logistics liên vùng.
Trong tầm nhìn đến năm 2050, nhu cầu thông qua hàng hóa được dự báo tăng bình quân khoảng 4,4 – 4,9% mỗi năm, trong khi lượng hành khách có thể tăng khoảng 1 – 1,4% mỗi năm.
Ba nhóm nhiệm vụ phát triển cảng biển
Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, TP.HCM xác định ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, thành phố định hướng tăng cường đầu tư hạ tầng cảng và hệ thống giao thông kết nối cảng với các trung tâm logistics và khu vực sản xuất. Mục tiêu là tối ưu luồng hàng hóa, giảm chi phí logistics và nâng cao khả năng kết nối với các tuyến vận tải biển quốc tế.
Thứ hai, thành phố tập trung xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển cảng biển, đường thủy nội địa và vận tải thủy; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, tự động hóa và phát triển mô hình cảng xanh, cảng thông minh.
Thứ ba, TP.HCM nghiên cứu các cơ chế tạo thuận lợi cho hàng hóa thông qua cảng, trong đó có mô hình khu thương mại tự do và cảng mở.
Kết nối hạ tầng vẫn là thách thức
Theo bà Đặng Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP.HCM, TP.HCM và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hiện đảm nhận hơn 65% sản lượng container xuất nhập khẩu của cả nước.

Trong năm 2025, lượng container thông qua hệ thống cảng tại khu vực đạt hơn 18 triệu TEU. Cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải có khả năng tiếp nhận tàu container lớn trên các tuyến trực tiếp đi châu Âu và châu Mỹ mà không phải trung chuyển tại cảng nước ngoài.
Tuy nhiên, chi phí logistics của Việt Nam hiện vẫn tương đương khoảng 18% GDP, cao hơn một số quốc gia trong khu vực.
Một trong những nguyên nhân chính là sự thiếu đồng bộ trong kết nối hạ tầng và tình trạng phân tán nguồn lực giữa các địa phương. Áp lực lên hoạt động vận chuyển nội địa bằng đường bộ, tiến độ của các công trình kết nối liên vùng và việc chưa khai thác hết tiềm năng vận tải thủy nội địa tiếp tục ảnh hưởng đến thời gian và chi phí vận chuyển hàng hóa.
Mạng lưới ICD và các bến thủy vệ tinh cũng chưa phát triển tương xứng với nhu cầu, khiến một phần hàng hóa vẫn phụ thuộc nhiều vào vận tải đường bộ khi kết nối với các cảng trọng điểm.
Hướng tới hệ sinh thái logistics đồng bộ
Để giải quyết các điểm nghẽn hiện nay, Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP.HCM đề xuất tăng cường cơ chế điều phối vùng, đồng bộ hóa quy hoạch logistics và đẩy nhanh phát triển hạ tầng vận tải đa phương thức.

Các định hướng khác gồm mở rộng ICD và bến thủy vệ tinh, tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi số, sử dụng năng lượng sạch và phát triển mô hình cảng xanh.
Theo bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cảng Quốc tế QTM, cạnh tranh trong tương lai không chỉ diễn ra giữa các cảng riêng lẻ mà còn giữa các hệ sinh thái logistics.
Bên cạnh năng lực tiếp nhận và xếp dỡ hàng hóa, khách hàng ngày càng quan tâm đến tổng thời gian vận chuyển, chi phí toàn chuỗi, khả năng truy xuất dữ liệu, mức độ ổn định và tính bền vững của chuỗi cung ứng.
Do đó, việc phát triển cảng thông minh cần bắt đầu từ những vấn đề thực tế như thời gian chờ tàu, năng suất khai thác, chi phí, thủ tục và khả năng phối hợp dữ liệu giữa các bên liên quan.
Tăng cường kết nối cảng biển quốc tế
TP.HCM được đề xuất thúc đẩy hợp tác quốc tế ở bốn cấp độ: thành phố với thành phố, cảng với cảng, doanh nghiệp với doanh nghiệp và thị trường với thị trường.
Các hoạt động hợp tác có thể tập trung vào chia sẻ kinh nghiệm quản lý và vận hành cảng, chuyển giao công nghệ, kết nối nền tảng dữ liệu, thử nghiệm giải pháp xanh và hình thành các tuyến dịch vụ hoặc hành lang logistics mới.
Tại Đối thoại Hữu nghị TP.HCM năm 2026, thành phố cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế hợp tác đa phương giữa các thành phố cảng trong mạng lưới địa phương hữu nghị. Các cơ quan chuyên môn sẽ tiếp tục nghiên cứu nội dung, mô hình và lộ trình triển khai trong thời gian tới.
Nguồn: Sưu tầm