Phát triển cảng cạn, tối ưu hóa vận tải hàng xuất, nhập khẩu

Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đảm bảo tính kế thừa trong quá trình phát triển, phát huy tối đa công suất của các cảng cạn hiện hữu, kết hợp rà soát điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu thực tế.

Theo Bộ GTVT, quy hoạch cảng cạn nằm trong các quy hoạch chuyên ngành được thực hiện nhằm triển khai cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Việc lập quy hoạch do Cục Hàng hải VN chủ trì, được thực hiện từ tháng 3/2022. Trong đó, quy hoạch dựa trên nhiều quy tắc. Cụ thể, cảng cạn phải gắn với đầu mối vận tải, gần các khu công nghiệp, khu chế xuất và kết hợp với các trung tâm dịch vụ logistics lớn. 

Đối với cảng cạn hỗ trợ cửa khẩu đường bộ, đường sắt, đường hàng không, ưu tiên quy hoạch tại các cửa khẩu quốc tế có lưu lượng hàng hóa, phương tiện lớn hoặc các cửa khẩu có vai trò kết nối quan trọng trong ASEAN, vận tải xuyên Á. Quy hoạch cảng cạn ưu tiên gắn với các hành lang vận tải có từ hai phương thức vận tải trở lên, đặc biệt là có vận tải thủy nội địa.

Quy hoạch được phê duyệt đã xác định cảng cạn là một bộ phận thuộc kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, là đầu mối tổ chức vận tải gắn liền với hoạt động của cảng biển, cảng hàng không, cảng thủy nội địa, ga đường sắt, cửa khẩu đường bộ.

Phát triển cảng cạn phải phù hợp với quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển, các quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của các vùng và địa phương.

Việc phát triển hệ thống cảng cạn để tối ưu hóa vận tải hàng hóa xuất, nhập khẩu của từng khu vực và các hành lang kinh tế. Đồng thời, kết hợp vừa phát triển cảng cạn gần cảng biển để hỗ trợ trực tiếp vừa phát triển cảng cạn xa cảng biển gắn liền với các trung tâm phân phối tiêu thụ hàng hóa, các cửa khẩu đường bộ, đường sắt để tổ chức tốt mạng lưới vận tải, thúc đẩy vận tải đa phương thức, giảm chi phí dịch vụ vận tải và logistics.

Ngoài ra, ưu tiên hình thành và phát triển các cảng cạn gắn với phương thức vận tải khối lượng lớn (đường thủy nội địa, đường sắt), cùng các cảng cạn gắn với khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, trung tâm logistics và các cửa khẩu đường bộ, đường sắt quốc tế có nhu cầu vận tải với khối lượng lớn.

Cùng đó, phát triển các vị trí mới kết hợp với việc di dời một số cảng cạn để hình thành hệ thống cảng cạn đồng bộ, hiện đại, bền vững, đảm bảo an toàn giao thông và bảo vệ môi trường.

Đặc biệt, huy động mọi nguồn lực, sử dụng tối đa nguồn lực xã hội hóa để đầu tư phát triển cảng cạn theo quy hoạch.

Như "cánh tay nối dài" của cảng biển

Bộ GTVT cho biết, trong bối cảnh nhu cầu vận tải container ở Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt là vận tải đường biển đã kéo theo sự phát triển của các cảng biển, vận tải đa phương thức và logistics. Việc phát triển cảng cạn như "cánh tay nối dài" của cảng biển vào sâu nội địa giúp tăng hiệu quả khai thác cảng biển.

Quy hoạch phát triển cảng cạn đóng vai trò thúc đẩy triển khai đầu tư khai thác cảng cạn, giảm gánh nặng ùn tắc do thiếu hụt kho bãi, ùn tắc giao thông trong tổ chức vận tải hàng hóa đến cảng biển và các cửa khẩu đường bộ hiện nay.

Bên cạnh đó, thúc đẩy hình thành các cảng cạn gắn với đường thủy nội địa, đường sắt để giảm thị phần vận tải đường bộ trên các hành lang vận tải container, góp phần tái cơ cấu vận tải, phát triển vận tải đa phương thức, giảm chi phí vận tải và ô nhiễm môi trường.

Quy hoạch vừa là căn cứ để đẩy nhanh hình thành các cảng cạn mới, chuyển đổi các điểm thông quan nội địa (ICD) đã được quy hoạch cảng cạn, vừa là căn cứ để địa phương và doanh nghiệp kết hợp quy hoạch phát triển hiệu quả cảng cạn và trung tâm logistics, cũng như đẩy nhanh việc hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan.

Bộ GTVT nhận định, quy hoạch mới đảm bảo sự đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với quy hoạch tổng thể quốc gia, các quy hoạch ngành quốc gia và các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành trên cả nước. 

Trong đó, có các quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, hàng không, đặc biệt là quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển và quy hoạch của các địa phương.

Ngoài ra, quy hoạch được phê duyệt cũng là cơ sở thúc đẩy hình thành và phát triển hệ thống cảng cạn để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu, tăng năng lực thông qua hàng hóa của các cảng biển.

Đồng thời, là cơ sở để tổ chức vận chuyển container một cách hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu tối ưu hóa vận tải hàng hóa xuất, nhập khẩu của từng khu vực và các hành lang kinh tế, hợp lý hóa tổ chức vận tải với hãng container, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp để nâng cao chất lượng, giảm chi phí dịch vụ vận tải và logistics.

Cùng đó, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ trực tiếp tại chỗ với hệ thống cảng biển, nhu cầu kết nối vận tải đa phương thức, tổ chức giao thông tại các khu vực hậu phương xa cảng biển.

TIN TỨC LIÊN QUAN

Việt Nam trong cuộc đua “hub hàng hóa” ASEAN: Long Thành, e-commerce và bài toán tín nhiệm xuất xứ

Thị trường hàng hóa hàng không đang “nóng” trở lại theo nghĩa rất thực: tốc độ không còn là ưu thế của riêng doanh nghiệp, mà dần trở thành lợi thế cấp quốc gia. IATA ghi nhận nhu cầu hàng hóa hàng không toàn cầu tăng mạnh và lập kỷ lục trong năm 2024, và sang 2025 nhiều tháng tiếp tục lập mốc cao mới theo CTK – cho thấy đây không phải là một đợt sóng ngắn hạn..

Đội bay chở hàng, FTZ sân bay và “tăng trưởng sạch”: Logistics hàng không Việt Nam bứt tốc thế nào từ 2026?

Logistics hàng không đang bước vào một chu kỳ mới: nhu cầu quốc tế tăng nhanh, thương mại cần tốc độ và độ ổn định cao hơn, còn doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng bị “soi” về chứng từ và xuất xứ. Trong bối cảnh đó, câu hỏi không còn là “có làm hàng không hay không”, mà là Việt Nam sẽ tổ chức năng lực theo cấu trúc nào để vừa tăng sản lượng, vừa tăng vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực. Ba mảnh ghép nổi lên như một “bộ khung” cho giai đoạn từ 2026: đội bay chở hàng (năng lực động), FTZ/bonded zone gắn sân bay (năng lực xử lý dưới đất), và tăng trưởng sạch (tín nhiệm để mở rộng mạng).

Chuyển đổi số logistics Việt Nam: Từ “mạnh ai nấy làm” đến nền tảng tích hợp toàn chuỗi

Trong vài năm trở lại đây, “chuyển đổi số logistics” xuất hiện dày đặc trên các diễn đàn. Nhưng nếu nhìn vào vận hành thực tế của nhiều doanh nghiệp, bức tranh vẫn khá quen thuộc: mỗi khâu một phần mềm, nhiều thao tác vẫn dựa trên Excel và điện thoại, dữ liệu “kẹt” trong từng bộ phận

TIN TỨC LIÊN QUAN

GLOTRANS VIỆT NAM RỘN RÀNG TIỆC TÂN NIÊN – CHÀO XUÂN BÍNH NGỌ 2026

Trong không khí hân hoan những ngày đầu năm mới, Glotrans Việt Nam đã long trọng tổ chức Tiệc Tân Niên chào đón Xuân Bính Ngọ 2026 với sự tham dự của Ban Tổng Giám đốc, Ban Giám đốc và toàn thể CBNV toàn hệ thống, gồm các văn phòng Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Quy Nhơn và TP. Hồ Chí Minh.

GLOTRANS THÔNG BÁO NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁN BÍNH NGỌ 2026

Kính gửi Quý Khách Hàng và Đối Tác, Glotrans xin trân trọng thông báo lịch nghỉ Tết Nguyên Đán 2026 như sau:

GLOTRANS MIỀN TRUNG | YEAR END PARTY 2025

Vừa qua, Glotrans Miền Trung đã tổ chức chương trình Year End Party 2025 trong không khí trang trọng, ấm áp và giàu tính kết nối, với sự tham dự của Ban Lãnh đạo cùng toàn thể CBNV hai văn phòng Glotrans Đà Nẵng & Glotrans Quy Nhơn.

TIN TỨC LIÊN QUAN

SỰ VIỆC TRANH CHẤP LÔ HÀNG ENZYME NHẬP KHẨU TỪ ẤN ĐỘ

Lô hàng phụ gia thực phẩm được vận chuyển trong container số FCIU3301688 (20’), theo vận đơn số MPRSMUM1806, trên chuyến tàu hành trình từ cảng Nhavasheva (Ấn Độ) đến cảng Đình Vũ (Hải Phòng, Việt Nam) vào ngày 29/04/2017

Hợp đồng bảo hiểm không chấm dứt khi chậm thanh toán phí

Theo hợp đồng, phí bảo hiểm được thanh toán thành ba kỳ và trong cả ba kỳ, người mua bảo hiểm đều chậm thanh toán. Khi có tranh chấp, doanh nghiệp bảo hiểm (Bị đơn) cho rằng hợp đồng bảo hiểm đã chấm dứt trước ngày xảy ra sự cố được bảo hiểm xuất phát từ việc chậm thanh toán tiền bảo hiểm nên không thanh toán tiền bảo hiểm. Tuy nhiên, Hội đồng Trọng tài theo hướng ngược lại.

Giá trị pháp lý của giám định tổn thất được bảo hiểm

Công ty Q (Nguyên đơn - Bên mua bảo hiểm) và Công ty B (Bị đơn - Bên bảo hiểm) ký hợp đồng bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm đã xảy ra nhưng các Bên không thống nhất về giá trị tổn thất nên đã phải tiến hành giám định. Giám định đơn phương của Bên bảo hiểm không được chấp nhận và giám định độc lập chỉ được chấp nhận một phần.